9 thg 7, 2014

Bond



Ông Lê Quang Cảnh không còn nữa.

Nhận tin qua điện thoại rằng Ông Lê Quang Cảnh (tức Lê Quang Trợ) là chồng cô Uyên đã từ trần ngày 10/ 4/ Giáp Ngọ tức ngày 18/5/2014 tại quê nhà Quảng Ngãi.

Đến Hà Đông thắp hương viếng ông mới biết: Khi ông chuyển bệnh nặng, vợ con ông cố cứu chữa cho ông tại bệnh viện Bạch Mai Hà Nội. Nhưng rồi bệnh ông mỗi ngày 1 xấu đi. Con cả ông từ miền Nam ra cùng vợ ông (bà Uyên) và các con ngoài này đi đến thống nhất đưa ông về quê. Ông về quê được khoảng 1 tuần gì đó rồi mất.

Dưới đây là hình chụp lại mộ ông được vợ con họ hàng xây xướng khá công phu hoành tráng:









Cháu Thành con cô Tính cưới vợ

Ngày 20/3/1014 tức ngày 20/2/Giáp Tý đi Hải Phòng 1.5 ngày để dự đám cưới cu Thành.



6 thg 11, 2013

Ảnh quý







Ảnh chụp ngày 23/4/1978

18 thg 10, 2013

Thơ Quế Hằng: Tự bạch

Quế Hằng – 1 thi sỹ nổi trội trong làng " Thơ Đường đất Việt" - tự bạch mới hay mới đẹp làm sao !

TỰ BẠCH
Quế Hằng

"Đồng trũng quê em một xóm nghèo
Tôm bơi cá lội nước trong veo
Trai tài đánh dậm cu đen nhẻm
Gái đảm bắt cua tí dính bèo"

Em thì đâu có bé teo teo
Đôi bữa nhịn ăn để vỗ eo
Trắng trẻo vui tươi hiền thể cuội
Lưa thưa lộc lá kiểu bèo bèo

Số trời vất vả lại gieo neo
Nhà cửa tuềnh toàng" khách vắng teo "
Con cái ba tên thôi cũng được
Cấp bằng hắn cướp hắn mang theo

Long đong nửa đời mưa cùng gió
Cố mãi cũng qua được cái nghèo

29 thg 8, 2013

QĐND: Du kích đường 5

QĐND - Thứ Ba, 31/03/2009, 10:41 (GMT+7)

QĐND Online - Là một tuyến đường sắt - bộ song hành dài hơn một trăm km, nối cảng Hải Phòng với Thủ đô Hà Nội, đường số 5 được xây dựng từ thập kỷ đầu của thế kỷ 20 với ý đồ triệt để khai thác thuộc địa của thực  dân Pháp. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), đường số 5 có một vị trí chiến lược bậc nhất trên chiến trường Bắc Bộ và vì thế nó trở thành chiến trường sôi động, nóng bỏng, đẫm máu, thường xuyên giành đi giật lại giữa ta và địch.

Về phía địch, cùng với ý nghĩa chính trị, kinh tế, chúng coi đường số 5 là tuyến đường có tầm quan trọng đặc biệt trong vận tải quân sự, “Cái yết hầu duy nhất để nối “cổ họng”- cảng Hải Phòng với “dạ dày”- Hà Nội” và trong chiến lược chung của Bộ Chỉ huy quân đội Pháp. Vì thế, ngay từ khi Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) đến khi kết thúc chiến tranh (1954), địch luôn coi việc giữ bằng được tuyến đường 5 là nhiệm vụ đặc biệt, không một phút lơi lỏng.

24 thg 8, 2013

Thơ Quế Hằng -1

CỦA TRỜI BAN
Quế Hằng (http://quehang.blogtiengviet.net/)

Trời tặng nhân gian cặp núi hoa
Trắng mơn, khêu gợi vẻ kiêu sa
Tràn trề ngoài vỏ đong hương ngát
Ăm ắp trong tâm chứa nước ngà
Lão bố xun xoe đòi hũ rượu
Cu ti nhớn nhác giữ bình trà
Ai ai cũng mết như say bả
Ông cử, ông đồ thẩy thiết tha

 

30. Cảm nhận từ: Nguyễn Quân [Bạn đọc] Email 12.07.13@06:35
Xin chào chị Quế Hằng!
Xin nghiêng mình trước bài thơ Đường luật của chị (tôi nói nghiêng mình vì bài thơ quá tuyệt, nhưng ý chủ đạo làm tôi phải nghiêng mình vì trời ban cho người phụ nữ "Cặp núi hoa" mà tạo hóa đã "Thiết kế" để làm thiên chức của đàn bà, để làm mẹ với:
" Tràn trề ngoài vỏ đong hương ngát
Ăm ắp trong tâm chứa nước ngà!"
Một ý tưởng thơ thật độc đáo,ví von, ẩn dụ sâu thẳm một bến bờ, làm người đọc như lạc vào chốn "Bồng lai tiên cảnh".
Chị mô tả, không! mà là chị mô phỏng và nâng hai "trái cấm" lên vị trí độc tôn, ý thơ lung linh và vẻ đẹp mê hồn của "Núi đôi" làm người đọc sững sờ, bởi cái vĩ đại trong "Núi đôi" ấy là "Dòng nước ngà", dòng sữa mát lành ấy là sự kết tinh của đất trời trao vào tay người đàn bà với thiên chức làm mẹ!
Tại sao chỉ trong mấy chục từ mà tôi lại hai lần nói đến cụm từ "thiên chức". Tôi muốn nói nhiều hơn nữa để tạo âm hưởng trùng điệp và nhân lên trùng trùng điệp điệp, bởi đó là sự vật hiển nhiên mà chỉ có ở đàn bà, còn với cánh đàn ông thì "móc đâu ra, đừng có mơ!". Bởi vậy nó là tuyệt đối với đàn bà, thưa chị, và cũng bởi vậy nên:
"Ai ai cũng mết như say bả
Ông cử, ông đồ thấy thiết tha!"
Không say, không thiết mới lạ chị à!
Mà hai cái nhà "ông Cử, ông đồ" như là biểu tượng đẹp đẽ chỉnh chu trong dòng đời đầy trắc ẩn mà cũng "ngẩn tò te" đánh rơi ấn tráp và...mực tàu mà không biết thì quả là chị quá "thâm nho" chị hằng ạ! "tội" của chị là to lắm vì chị đã dám "xúc xiểm" đến thần tượng của bàn dân thiên hạ! cái ý vị để bài thơ đạt tầm là ở chỗ đó, chứ chị đưa hình ảnh ông vua chễm trệ trên ngai vàng hay hình ảnh của kẻ bần cùng khốn khổ hiểu theo nghĩa "đói ăn vụng, túng làm liều" để nói lên sự thèm khát thì bài thơ lại chỉ mức độ "phàm tục" chứ không đạt được vẻ đẹp thánh thiện, thưa chị!
Cảm ơn chị
Cảm ơn "Núi đôi" của chị
Chúc chị sức khỏe và niềm vui!

Viết bởi nguyễn Quân, Vũng Tàu


NÚI CON GÁI
(ở Sapa Lao cai)


Kìa núi phơi xuân dưới nắng hồng
Như người thiếu nữ giáng thon ong
Lá non mơn mởn ôm sườn mỏng
Cành nõn tơ tơ ấp lối cong
Lạch nước trong veo đòi mải ngắm
Lúa nương vàng óng gợi mê trông
Ơn trời ban tặng miền sơn cước
Một chốn bồng lai thỏa cõi lòng

Quế Hằng

LỌ MỌ
Quế Hằng Tặng các nhân sỹ tạị vườn chim ngày 10/8 2013
Lò mò nhân sỹ đến vườn chim
Khổ thế vì sao cứ phải tìm
Ngóc cổ dài ngoằng chàng trĩ đỏ
Xòe đuôi tròn vạnh chú công kim
Bồi hồi bổi hổi rung buồng phổi
Thểu thảo thều thào rộn trái tim
Nhìn thấy mấy nàng mê tít lít
Có say đến mấy cũng nên ghìm.

Hồn Quê họa vội vài dòng góp vui với nhé!

Biết rằng em vẫn thích chơi chim
Vì thế nên anh cũng kiếm tìm
Đàn Trĩ ngắc ngư cần cổ cứng
Lũ Công ngấm nguẩy quạt đuôi kim
Tao nhân ngây ngất không rời mắt
Mặc khách mẩn mê đến rụng tim
Đâu chỉ nhiều nàng mê ngắm nghía
Mấy bà tóc bạc cũng đang ghìm !
 
  Hồn Quê
  Chúc cả làng cùng vui!

Trúc Tâm họa :
ĐÀNH GHÌM

Tìm em cũng tựa cuộc tìm chim
Mấy đận toi công vẫn cố tìm
Nghe nói gà tơ đang dặm ổ
Tin đồn chỉ thắm đã luồn kim
Nhiều khi bối rối như lồng ruột
Lắm lúc nghẹn ngào tưởng thắt tim
Kết cục người xinh đang hạnh phúc
Đã thua lại ức cũng đành ghìm

T.T
Chúc em luôn xinh đẹp, tài hoa !